Hồ sợi dọc là gì? 6 tiêu chí trước khi dệt

Hồ sợi dọc là công đoạn đưa một lượng chất hồ phù hợp lên hệ sợi dọc, sau đó sấy và quấn thành trục. Mục tiêu là tăng khả năng chịu kéo, chịu uốn và ma sát. Lớp hồ cũng ép lông sợi sát vào thân sợi để miệng vải mở rõ. Sợi vẫn phải giữ đủ độ giãn để hấp thụ dao động lực căng.

Với đơn hàng dệt thoi, công thức hồ sợi dọc phải dựa trên thành phần xơ, chi số, mật độ dọc, kiểu dệt và tốc độ máy. Cùng là cotton Ne 40/1, sợi chải thô và chải kỹ có thể cần mức hồ khác nhau. Công thức chạy tốt trên máy dệt kiếm cũng chưa chắc phù hợp với máy dệt khí tốc độ cao.

Quá trình hồ sợi dọc giúp giảm lông sợi, hạn chế đứt sợi và duy trì dệt ổn định
Hồ sợi dọc tạo lớp bảo vệ trên bề mặt, giúp sợi chịu ma sát tốt hơn khi dệt.

Câu trả lời ngắn: hồ sợi dọc để làm gì?

Hồ sợi dọc tạo một lớp bảo vệ mỏng, liên tục và đủ dẻo quanh thân sợi. Lớp này cải thiện độ bền trong điều kiện dệt, giảm mài mòn tại mắt go và lược, đồng thời hạn chế lông sợi móc vào nhau. Kết quả cần thấy trên máy là ít đứt đầu sợi, ít bụi hồ, miệng vải sạch và tốc độ vận hành ổn định hơn.

Quy trình hồ sợi dọc chủ yếu phục vụ dệt thoi.

Sợi ngang hoặc sợi dệt kim thông thường không mặc nhiên phải hồ.

Một số sợi filament vẫn cần công thức riêng.

Vì sao sợi dọc chịu tải nặng trong quá trình dệt?

Sợi dọc đi từ trục qua trục sau, mắt go, lược và vùng tạo vải. Trong mỗi chu kỳ, sợi liên tục bị kéo, bẻ góc và cọ xát. Một điểm yếu nhỏ có thể làm máy dừng nhiều lần khi tốc độ tăng.

Mở miệng vải làm sợi kéo giãn và cọ xát

Khi máy tạo miệng vải, sợi dọc bị bẻ góc và trượt qua mắt go.

Hai lớp sợi thay nhau đi lên, đi xuống nên cọ xát nhiều lần.

Lông dài dễ móc vào sợi bên cạnh, gây treo sợi hoặc cản đường đưa sợi ngang.

Trên máy dệt khí, một vùng sợi rối nhỏ có thể làm sợi ngang đi không hết khổ.

Đưa sợi ngang và đập sợi ngang tạo thêm ma sát

Ở máy có thoi, thoi tác động lên hệ sợi dọc, nhất là khu vực biên. Máy không thoi giảm một số va chạm nhưng vẫn cần miệng vải sạch. Khi lược đập sợi ngang, răng lược tiếp tục cọ xát với sợi dọc. Nếu màng hồ quá giòn, nó có thể nứt và tạo bụi tại đây.

Nhả sợi và cuốn vải duy trì lực căng liên tục

Sợi được nhả khỏi trục trong trạng thái có lực căng.

Điểm mỏng, chỗ nối kém hoặc mức hồ không đều dễ gây đứt.

Độ bền kéo tĩnh vì thế chỉ là một phần của đánh giá.

Phản hồi tại go, lược và vùng biên mới cho thấy sợi có hợp điều kiện dệt thật hay không.

Hồ sợi dọc cải thiện những đặc tính nào?

Sau khi thấm một phần vào thân sợi, vật liệu hồ tạo màng trên bề mặt khi sấy.

Màng cần bám chắc nhưng vẫn dẻo.

Nó không nên bong bụi, làm dính đầu sợi hoặc cản trở rũ hồ.

Bốn thay đổi cần kiểm tra gồm:

  • độ bền tăng vừa đủ để sợi vượt qua các điểm ma sát;
  • phần lớn độ giãn đứt ban đầu vẫn được duy trì;
  • khả năng chịu mài mòn được cải thiện trong cùng điều kiện thử;
  • lông sợi nằm sát thân sợi, giúp miệng vải mở sạch hơn.

Với sợi filament, lớp hồ giúp các filament nhỏ liên kết thành bó.

Tuy nhiên, lượng hồ quá cao có thể làm sợi cứng, giảm độ giãn và tăng nứt màng.

Khách đang chọn sợi cotton hoặc sợi polyester cho dệt thoi nên thống nhất yêu cầu hồ ngay khi xác nhận sợi.

Độ hút, độ bám dính và phương pháp rũ hồ của hai nhóm nguyên liệu không giống nhau.

6 yêu cầu kỹ thuật của hồ sợi dọc

1. Tăng bền nhưng không làm sợi giòn

Hồ sợi dọc cần tăng bền vừa đủ để sợi đi qua mắt go và lược.

Màng quá dày hoặc cứng sẽ dễ nứt khi sợi bị uốn.

Thân sợi cũng mất khả năng hấp thụ dao động lực căng.

Với hồ sợi dọc, mức tăng bền tham khảo là 25%–40% cho cotton, 10%–25% cho polyester/cotton và 10%–20% cho polyester.

Polyester/viscose và viscose có thể dùng mốc trên 25%.

Đây là dữ liệu trial, không phải giới hạn chung.

Độ bền và độ giãn đứt có thể kiểm tra theo ISO 2062.

Khi so sánh trước và sau hồ, cần giữ cùng phương pháp, điều kiện mẫu, tốc độ kéo và số lần đo.

2. Giữ đủ độ giãn đứt

Sợi cần độ giãn để chịu biến động lực căng.

Một số tài liệu lấy cotton chưa hồ có độ giãn khoảng 7% làm điểm tham khảo.

Sau hồ, mức 4%–5% và tỷ lệ giảm không quá 30% thường được dùng cho trial.

Với polyester/cotton hoặc polyester/viscose, mức giảm tham khảo không quá 25%; viscose khoảng 35%.

Đội ngũ hỗ trợ mẫu vẫn phải theo dõi số đứt và trạng thái màng hồ trên máy.

3. Tăng khả năng chịu mài mòn

Hồ sợi dọc phải cải thiện khả năng chịu cọ xát tại mắt go và lược.

Phép thử cần thống nhất thiết bị, tải trọng, tốc độ và cách xác định điểm hỏng.

Nói thẳng, độ bền kéo cao chưa chắc chạy máy tốt.

Công thức có thể cho kết quả kéo đẹp nhưng tạo nhiều bụi.

Lớp bảo vệ mất sớm, go và lược nhanh bẩn.

4. Giảm lông sợi mà không gây dính sợi

Mức giảm lông trên 75% từng được xem là chỉ tiêu tốt.

Báo cáo cần ghi chiều dài lông được đếm và loại thiết bị.

Hai hệ thống đo khác nhau có thể cho kết quả khác nhau.

Khi chạy mẫu hồ sợi dọc, chúng tôi kiểm tra thêm khả năng tách đầu sợi.

Nếu các đầu dính nhau, miệng vải vẫn không sạch.

Kết quả cần đạt là sợi tách rõ và ít bụi.

5. Tạo trục hồ đồng đều

Trục hồ sợi dọc không nên có sợi chéo, nhiều đầu, thiếu đầu hoặc dính đầu.

Lực căng theo chiều rộng phải đồng đều.

Mép trục cần gọn để tránh kéo biên.

Tỷ lệ trục tốt trên 60% là một mốc tham khảo cũ.

Phiếu kiểm tra vẫn phải ghi lỗi nối đầu, lệch biên, chênh lượng hồ, độ ẩm và tình trạng quấn trục.

6. Giảm đứt sợi và lỗi vải trên máy

Mục tiêu cuối của hồ sợi dọc là giảm dừng máy mà không tạo thêm lỗi.

Mức tham khảo cũ là dưới một lần đứt trên mỗi máy-giờ với máy có thoi.

Máy không thoi từng dùng mốc 10–15 lần đứt trên 100.000 lượt sợi ngang.

Các mốc trên không phải chuẩn chung cho thiết bị hiện đại.

Nên so sánh các công thức trên cùng máy, cùng mã vải và cùng điều kiện vận hành.

Bảng đọc nhanh khi duyệt trial hồ sợi dọc

Hiện tượng quan sátKhả năng cần kiểm traHướng xử lý trial
Đứt sợi vẫn caoĐiểm yếu sợi, lượng hồ thấp, lực căng hoặc sấy chưa phù hợpKiểm lại độ đều, tăng bền, lượng hồ bám và lực căng từng vùng
Sợi cứng, dễ gãy khi uốnMàng hồ dày, độ ẩm thấp hoặc công thức thiếu độ dẻoGiảm mức hồ, chỉnh sấy và kiểm tra lại độ giãn
Nhiều bụi tại go và lượcMàng hồ giòn hoặc bám dính kémKiểm độ nhớt, vật liệu tạo màng và điều kiện sấy
Miệng vải không sạchLông sợi còn nhiều hoặc các đầu sợi dính nhauĐo lông sợi, quan sát tách sợi và điều chỉnh mức ép
Biên trục chạy không ổn địnhLực căng hoặc quấn trục không đềuKiểm chênh lực căng theo chiều rộng và trạng thái mép trục

Dữ liệu cần có trước khi duyệt công thức

Trước khi trial hồ sợi dọc, chi số phải được xác nhận để tính lượng hồ và lực căng. ISO 2060 mô tả cách xác định khối lượng trên đơn vị chiều dài của sợi từ package.

Nhầm Ne, tex hoặc dtex có thể làm trial đi sai hướng.

Một phiếu trial có giá trị nên ghi tối thiểu:

  • thành phần xơ, chi số, độ xoắn, dạng sợi và độ đều;
  • mật độ dọc, tổng số đầu sợi, khổ trục và kiểu dệt;
  • loại máy, tốc độ, lực căng mục tiêu và cấu hình go, lược;
  • loại hồ, tỷ lệ chất rắn, nhiệt độ, độ nhớt và thời gian sử dụng;
  • mức ép, nhiệt độ sấy, độ ẩm hồi và lượng hồ bám;
  • độ bền, độ giãn, mài mòn, lông sợi, bụi hồ và số đứt thực tế.

Trong quá trình hỗ trợ mẫu, chúng tôi giữ sợi trước hồ, sau hồ và một đoạn vải mộc.

Ba mẫu giúp truy lại nguyên nhân khi lô lớn xuất hiện đứt sợi hoặc sọc dọc.

Mã lô sợi cũng cần được khóa để không trộn biến động nguyên liệu vào kết quả trial.

Rũ hồ và chi phí hoàn tất không nên kiểm tra quá muộn

Sau hồ sợi dọc, vải mộc phải rũ được lớp hồ theo quy trình đã thiết kế.

Vật liệu khó rũ làm tăng nước, hóa chất, nhiệt và tải cho hệ thống nước thải.

Tài liệu BAT của EU-BRITE là nguồn đối chiếu cho công đoạn tiền xử lý dệt.

Từ phía cung ứng, chúng tôi cần biết vải mộc sẽ đi nhuộm, tẩy hay giữ hồ để tạo handfeel.

Nếu phải rũ sạch, nhà máy cần nhận thành phần hồ và điều kiện xử lý ngay từ đầu.

Ba câu hỏi thường gặp về hồ sợi dọc

Có phải mọi sợi dọc đều cần hồ?

Không.

Nhu cầu phụ thuộc vào loại xơ, cấu trúc sợi, mật độ dọc, kiểu dệt và tốc độ máy.

Sợi filament vẫn có thể cần hồ để giữ bó sợi.

Lượng hồ càng cao thì sợi càng dễ dệt phải không?

Không.

Quá nhiều hồ làm sợi cứng, giảm độ giãn, tăng bụi hoặc gây dính.

Mức phù hợp là mức thấp nhất vẫn đạt số đứt và hiệu suất mục tiêu.

Khi nào có thể chuyển từ trial sang đơn hàng lớn?

Chỉ nên chuyển khi dữ liệu phòng thử và phản hồi máy cùng đạt. Trục phải chạy đủ lâu để quan sát đứt sợi, bụi hồ và biên vải.

Sau đó mới khóa công thức và điều kiện sấy cho bulk order.

Một công thức hồ sợi dọc đạt yêu cầu không được quyết định bởi riêng độ bền hay lượng hồ bám. Cần nhìn đồng thời độ giãn, mài mòn, lông sợi, quấn trục, rũ hồ và số đứt trên máy.

Với một mã dệt thoi cụ thể, khách hàng nên gửi thành phần, chi số, mật độ dọc, kiểu dệt, khổ trục, loại máy, yêu cầu test, MOQ và thời gian giao dự kiến.

Đội ngũ hỗ trợ mẫu sẽ xác định phạm vi trial và rủi ro trước bulk order.