Sợi màu đoạn là gì?
Sợi màu đoạn tạo màu cho xơ rời trước khi kéo. Sau khi nhuộm, xơ màu được phối theo tỷ lệ rồi đưa vào dây chuyền. Cách này thường tạo bề mặt melange với nhiều sắc độ đan xen.
Nhìn xa, mặt vải có thể chỉ là một màu sạch. Nhìn gần, người xem thấy điểm màu, vệt đậm hoặc đoạn nổi nhẹ. Hiệu ứng nằm trong cấu trúc sợi. Nó không phải hoa văn in sau khi dệt.
Một số tài liệu gọi nhóm này là segment-colored yarn. Trong ngành, tên gọi có thể thay đổi theo máy và cấu trúc. Vì vậy, khi làm mẫu, cần xem mẫu sợi và mẫu vải thay vì chỉ ghi tên thương mại.

Cấu tạo của sợi màu đoạn
Cấu trúc sợi màu đoạn thường gồm hai phần chính:
- Sợi nền: được cấp liên tục và giữ vai trò chính về độ bền, chi số và cảm giác tay.
- Đoạn màu: được cấp theo từng thời điểm. Phần này làm thay đổi màu và khối lượng trên từng đoạn sợi.
Khi đoạn màu được cấp vào, thân sợi dày hơn hoặc có màu nổi rõ hơn. Khi đoạn màu dừng lại, sợi quay về trạng thái nền. Dệt hoặc dệt kim xong, hai vùng này tạo ra bề mặt có chiều sâu.
Sợi màu đoạn không nhất thiết dùng hai loại xơ khác nhau. Hai phần có thể cùng là cotton nhưng khác màu. Chúng cũng có thể dùng hai thành phần, chẳng hạn cotton và viscose. Thành phần cụ thể phải xem trên phiếu kỹ thuật của từng mã.
Sợi màu đoạn được tạo ra như thế nào?
Điểm khác biệt nằm ở cách cấp sợi thô vào máy kéo sợi vòng. Hệ thông thường chỉ cần một tuyến cấp sợi. Sợi màu đoạn cần ít nhất hai nguồn sợi thô để tạo phần nền và phần hiệu ứng.
Một nguồn được cấp liên tục. Đây là sợi thô nền. Nguồn còn lại được cấp ngắt quãng. Đây là sợi thô màu hoặc sợi thô tạo hiệu ứng.
Hai nguồn gặp nhau ở vùng kéo và vùng tạo xoắn. Khi nguồn phụ được cấp, một đoạn màu xuất hiện trên thân sợi. Khi nguồn phụ dừng, sợi nền tiếp tục đi qua.
Nguyên lý này được mô tả trong một tài liệu kỹ thuật về thiết bị sợi màu đoạn. Một sợi thô đi liên tục, trong khi sợi thô màu được điều khiển theo nhịp. Tốc độ và thời gian cấp ảnh hưởng trực tiếp đến đoạn màu.
Trên một số thiết bị, các trục cấp được điều khiển riêng bằng động cơ servo. Bộ điều khiển và encoder giúp máy kiểm soát thời điểm cấp. Tuy nhiên, cấu hình cụ thể còn tùy máy và phương án cải tạo.
Vì sao có thể hình dung như “hai nguồn cấp”?
Sợi nền giống dòng cấp liệu liên tục, còn sợi phụ cấp theo nhịp. Hai nguồn gặp nhau trước vùng tạo xoắn. Nhờ đó, thân sợi có vùng dày, mảnh và đổi màu theo thiết kế.
Ba thông số quyết định hiệu ứng
1. Chiều dài đoạn màu
Đoạn ngắn thường tạo hạt hoặc điểm màu nhỏ. Đoạn dài tạo vệt rõ hơn. Khi phát triển mẫu, nên ghi chiều dài mục tiêu hoặc dùng mẫu vải để mô tả.
2. Khoảng cách giữa các đoạn
Khoảng cách ngắn làm mặt vải có nhiều hiệu ứng hơn. Khoảng cách dài tạo cảm giác thưa và tiết chế. Khoảng cách không chỉ ảnh hưởng ngoại quan. Nó còn ảnh hưởng mức độ lặp lại của hoa văn trên khổ vải.
3. Tỷ lệ đoạn màu
Tỷ lệ đoạn màu là phần khối lượng của đoạn hiệu ứng trong toàn bộ sợi. Phạm vi tham khảo thường được nêu ở mức 3%–20%. Các hiệu ứng nhẹ thường dùng tỷ lệ dưới 10%.
Đây chỉ là phạm vi tham khảo. Mã hàng, loại xơ, chi số và thiết bị có thể làm kết quả khác nhau. Khi duyệt mẫu, cần kiểm tra tỷ lệ thực tế cùng với bề mặt vải.
Ba thông số trên phải được xem cùng màu và thành phần. Chỉ đổi màu nhưng giữ nguyên chiều dài đoạn chưa chắc cho cùng một hiệu ứng. Cấu trúc dệt và dệt kim cũng làm kết quả thay đổi.
Sợi màu đoạn khác sợi slub ở đâu?
Sợi slub chủ yếu mô tả sự thay đổi có chủ đích về độ dày. Sợi nền và đoạn dày có thể vẫn dùng cùng màu và cùng thành phần. Sợi màu đoạn nhấn mạnh thêm sự thay đổi về màu hoặc vật liệu.
| Tiêu chí | Sợi slub | Sợi màu đoạn |
|---|---|---|
| Cấu trúc | Đoạn dày – mỏng trên thân sợi | Đoạn dày hoặc hiệu ứng kèm thay đổi màu |
| Thành phần | Có thể là một loại xơ | Có thể cùng xơ hoặc pha nhiều xơ |
| Hiệu ứng chính | Hạt, vệt hoặc vùng nổi | Đoạn màu, vệt màu và vùng nổi |
| Điểm cần kiểm | Độ dài, độ dày, mật độ đoạn slub | Độ dài đoạn, khoảng cách, tỷ lệ màu và độ đều lô |
Hai nhóm có thể giao nhau trong một số thiết kế. Vì vậy, không nên chỉ nhìn bề mặt để phán đoán tên sợi. Khi làm mẫu, hãy ghi rõ đoạn hiệu ứng là do thay đổi độ dày, màu hay cả hai.
Có thể đọc thêm về cấu tạo và ứng dụng sợi slub cùng các nhóm sợi fancy. Phần này tập trung vào cơ chế cấp sợi màu theo từng đoạn.
Ứng dụng của sợi màu đoạn
Hiệu ứng cuối phụ thuộc loại vải. Cùng một sợi có thể tạo vệt rõ trên denim nhưng chỉ tạo điểm nhẹ trên knitwear.
Denim và vải dệt thoi
Denim thường làm đoạn dày và đoạn màu nổi rõ hơn. Sau giặt, sự khác biệt về phản xạ và độ bắt màu có thể làm hiệu ứng rõ hơn. Mẫu vải mộc và mẫu sau giặt đều cần được duyệt.
Knitwear, áo thun và áo len mỏng
Trên hàng dệt kim, đoạn màu đi theo vòng sợi. Gauge, mật độ và lực căng cấp sợi có thể làm thay đổi vị trí nhìn thấy. Nếu phát triển mẫu trên máy 12G, nên chạy panel nhỏ trước khi chốt bulk.
Sơ mi và vải trang trí
Sợi màu đoạn có thể tạo bề mặt mộc cho sơ mi, rèm, vỏ gối và vải trang trí. Với sản phẩm tiếp xúc da, cần kiểm tra cảm giác tay sau giặt. Với hàng gia dụng, cần xem thêm độ mài mòn và xù lông.
Một số thiết kế dùng hai vật liệu để tạo hai cảm giác khác nhau. Sợi nền có thể ưu tiên độ bền. Đoạn màu có thể ưu tiên độ mềm hoặc khả năng hút ẩm. Những đặc tính này cần được xác nhận theo thành phần và phép thử.
Vì sao sợi màu đoạn có thể liên quan đến tiết kiệm nước?
Ưu điểm môi trường phụ thuộc vào công đoạn nhận màu. Nhuộm cả cây vải cần xử lý toàn bộ vật liệu. Tuyến xơ màu chỉ xử lý phần xơ cần phối.
Một số số liệu tham khảo dùng mốc 100–120 tấn nước cho một tấn vải nhuộm. Khi chỉ nhuộm một phần xơ, một ví dụ khác ghi nhận nước, năng lượng và nước thải có thể còn khoảng 20%. Đây không phải kết quả mặc định cho mọi nhà máy.
Với polyester, xưởng còn có thể dùng màu trong polymer trước khi đùn filament. Tuyến này khác với nhuộm xơ rời. Mức giảm nước và hóa chất phải đối chiếu theo loại polymer, màu và quy mô sản xuất. Khi cần so sánh công đoạn sau dệt, có thể xem thêm quy trình nhuộm và hoàn tất vải dệt kim.
Vì vậy, không nên chỉ nhìn một mẫu vải rồi gắn nhãn “thân thiện môi trường”. Cần hỏi màu được tạo ở xơ, trong polymer, trên sợi hay trên vải. Đồng thời, nên yêu cầu dữ liệu cùng loại vật liệu và cùng sản lượng.
Sau khi dệt có thể nhuộm một lần hay hai lần?
Nếu hai phần sợi dùng vật liệu khác nhau, nhà máy có thể làm nổi màu của một thành phần. Trường hợp cần hai màu, có thể phải dùng hai bước hoặc hai hệ thuốc nhuộm.
Khả năng thực hiện tùy thành phần, cấu trúc vải và điều kiện máy. Không phải mã sợi nào cũng phù hợp với nhuộm một thành phần hoặc hai thành phần.
Lab dip nên được thực hiện trên nền vải gần với đơn hàng. Màu trên cone có thể khác màu sau dệt. Vùng nổi cũng phản xạ ánh sáng khác với phần sợi nền.
Cần xác nhận gì khi chọn mẫu sợi màu đoạn?
Khi yêu cầu mẫu, bên mua nên gửi một bộ thông tin đủ để đối chiếu:
- Thành phần xơ: ghi rõ sợi nền và đoạn màu dùng loại xơ nào.
- Chi số và cấu trúc: ghi Ne, Nm hoặc tex, cùng yêu cầu về sợi đơn, sợi xe và độ xoắn.
- Hiệu ứng nhìn thấy: gửi mẫu vải, mẫu màu hoặc ảnh cận cảnh. Nếu có thể, ghi chiều dài đoạn, khoảng cách và tỷ lệ đoạn màu.
- Máy và ứng dụng: nêu máy dệt, máy dệt kim, gauge, mật độ và định lượng mục tiêu. Mẫu tất 18G và knitwear 12G không nên so trực tiếp.
- Hoàn tất: ghi rõ có cần nhuộm một thành phần, nhuộm hai thành phần, giặt, raising, napping hoặc xử lý khác hay không.
- Tiêu chí nghiệm thu: xác nhận độ lệch màu, phân bố đoạn màu, độ co, xù lông, độ bền ma sát và độ bền giặt.
- Điều kiện thương mại: xác nhận MOQ theo màu, thời gian làm mẫu, khả năng bổ sung lô và thời gian giao dự kiến.
Không nên chỉ nhìn một sợi đơn lẻ. Hãy xác nhận cả cone, vải mộc và mẫu sau hoàn tất. Đơn hàng lớn cũng cần kiểm tra sự khác nhau giữa các cone và các lô.
Cần kiểm soát gì khi vào bulk order?
Mẫu nhỏ chỉ dùng vài cone. Bulk order đi qua nhiều cone, nhiều ca máy và thời gian dệt dài hơn. Vì vậy, chênh lệch về mật độ đoạn màu, màu sắc và độ dày dễ lộ hơn.
Trước tiên, hãy khóa mẫu sợi và mẫu vải chuẩn. Sau đó, chạy thử một lô nhỏ rồi kiểm tra lại sau hoàn tất. Nếu đổi nhiều thông số cùng lúc, việc truy nguyên sẽ khó hơn.
Cũng cần chú ý cách quấn cone. Cone quá chặt hoặc quá lỏng đều có thể làm thay đổi lực căng khi tháo sợi. Bên cung ứng nên xác nhận lõi giấy, trọng lượng, hướng tháo và thiết bị phù hợp.
Khi dệt, rủi ro thường gặp gồm kéo đuôi đoạn màu, sọc ngang, phân bố đoạn không đều và đoạn quá dày. Khi có lỗi, hãy đối chiếu chi số, độ xoắn, chiều dài đoạn, khoảng cách và số lô.
Ghi nhớ: sợi màu đoạn không phải slub thông thường
Slub thông thường chủ yếu thay đổi độ dày. Sợi màu đoạn còn thay đổi màu hoặc vật liệu. Điểm cốt lõi không chỉ là đoạn nào dày hơn, mà còn là xơ nào được cấp, cấp trong bao lâu và kết hợp với sợi nền ra sao.
Nếu cần phát triển mã sợi này, hãy gửi thành phần xơ, chi số, màu, chiều dài đoạn, khoảng cách, tỷ lệ, máy, ứng dụng, hoàn tất, yêu cầu test, MOQ và thời gian dự kiến. Bộ thông tin này giúp làm mẫu rõ ràng hơn.



